Mon – Sat: 8:30 – 18:30

Tranh chấp hợp đồng hợp tác đầu tư tại Hoa Kỳ

Dịch vụ của chúng tôi

Hiện nay, quá trình giao thương kinh tế diễn ra khắp nơi, với phạm vi quốc tế. Người Việt Nam có quyền đầu tư ra nước ngoài theo quy định pháp luật.

Tuy nhiên không phải sự hợp tác đầu tư nào cũng mang lại kết quả tốt đẹp, mà vẫn có thể xảy ra tranh chấp trong hợp đồng hợp tác đầu tư quốc tế. Các tranh chấp này xuất phát từ các hợp đồng đầu tư, hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng đầu tư quốc tế. Sau đây là một vụ việc có trong thực tế.

Thương lượng để ký hợp đồng là bước đầu của thành công

I. NỘI DUNG VỤ TRANH CHẤP

Tháng 11/ 2014 tại TP.HCM, các cá nhân:

  1. ông Th và bà Os L – đại diện cho nhóm cổ đông sỡ hữu 35% của Cty Milk
  2. ông T và bà N,

Thoả thuận:

Ông T và bà N đồng ý tham gia góp vốn đầu tư vào Milk bằng hình thức mua cổ phiếu chưa phát hành của Milk, tương đương 15% với giá trị mua là 1.500.000 usd để nắm giữ sở hữu 1.500.000 cổ phần (mỗi cổ phần giá 1 usd). Số tiền mua sẽ được thanh toán làm 3 đợt:

  • Đợt 1: số tiền 500.000 usd sẽ được chuyển cho ông Th tại Việt Nam để sử dụng cho việc mua máy móc thiết bị cho Milk sau khi ký hđ này.
  • Đợt 2: số tiền 500.000 usd tiếp theo sẽ chuyển vào tài khoản tại Mỹ của Milk sau khi đã lấy lại hoặc doanh nghiệp được thành lập mới mà ông T và bà N sẽ sở hữu 15% cổ phần.
  • Đợt 3: số tiền 500.000usd còn lại sẽ được chuyển nhượng như phương thức đợt 2.

Trong quá trình đàm phán để lấy lại Milk sẽ xảy ra 1 trong 2 trường hợp:

+ TH1: việc lấy lại milk đều thuận lợi thì sẽ thực hiện theo nội dung hơp đồng này

+ TH2: trở ngại thì thống nhất thành lập 1 doanh nghiệp mới với ngành nghề: sản xuất kinh doanh sữa công thức và dược phẩm dinh dưỡng. Cấu trúc doanh nghiệp như sau:

  • Vốn điều lệ là 10.000.000 uds (bao gồm tiền và giá trị tài sản)
  • Ông Th và những cổ đông cũ chiếm 70%
  • Ông T và bà N chiếm 15%
  • Ông Ch và bà Ng chiếm 5%
  • Cổ phần chưa phát hành 10%

Văn bản này có các cá nhân chứng kiến là Ng, H, Th H.

Tháng 01/2015 ông Th, và Ng, ông T, bà Tr ký hợp đồng góp vốn liên danh mua Ware House, góp vốn liên danh 2.280.000 usd, với tỷ lệ như sau:

  • Ông Th góp 980.000 usd sở hữu 42,98%
  • Ông T góp 500.000 usd sở hữu 21,92%
  • Bà Ng góp 300.000usd sở hữu 13,15%
  • Bà Tr góp 300.000usd sở hữu 13,15%
  • Thời gian hoàn tất việc góp là ngày 15/01/2015.

Điều 2 hợp đồng góp vốn liên danh mua ware house quy định Phương án kinh doanh như sau:

  1. Thực hiện mua lại Ware house có diện tích 108.927 sf tại Hoa Kỳ với giá 7.600.000 usd, việc thanh toán sẽ bằng vốn góp các cổ đông là 2.280.000usd để thanh toán 30% trị giá ware house; và dùng vốn vay do ông Th và bà Lđứng vay cá nhân tại Ngân hàng tại Hoa Kỳ để thanh toán 70% trị giá ware house mua bằng 5.320.000usd cho bên bán.
  2. Thực hiện ưu tiên ký hợp đồng cho thuê lại ware house theo hiện hữu đã mua cho Công ty Milk, hết thời hạn 3 năm thuê thì Công ty Milk mua lại ware house với giá trị 7.600.000 usd ban đầu + lãi 684.000usd bằng 30% tổng số vốn góp của các cổ đông. Thu tiền khi bán ware house sẽ chuyển trả nợ 5.320.000usd khi ông Th và bà L vay ngân hàng, Milk trực tiếp nhận nợ và trả cho ngân hàng; thu số tiền còn lại và hoàn trả cho các cổ đông số vốn góp ban đầu 2.280.000usd; thu lãi 684.000usd bằng 30% số vốn góp các cổ đông và chia theo tỷ lệ % sở hữu vốn góp.

Điều 3. Người đại diện liên danh

04 cổ đông đồng ý và cùng chịu trách nhiệm cử, uỷ quyền người đại diện cho liên danh nhóm cổ đông góp vốn thực hiện các công việc sau:

  • Người đại diện: ông Th
  • Thực hiện các công việc:
  • Tiếp nhận vốn góp của các cổ đông vào liên danh
  • Toàn quyền quyết định hình thức, nội dung thực hiện các công việc, thủ tục liên quan đến các thể nhân, pháp nhân, tổ chức tín dụng để thực hiện hoàn thành phương án kinh doanh nêu tại điều II hợp đồng này.

Tháng 03/2015 ông Th và bà Os L [cả 2 đại diện cho nhóm cổ đông sở hữu 35% cổ phần của Milk hiện tại], ông Ch [cổ đông sáng lập Công ty Milk INC, sở hữu 85% cổ phần – chủ tịch công ty], ông T [cổ đông sáng lập Công ty milk INC, sở hữu 15% cổ phần]. Thoả thuận những nội dung sau:

  • Sau khi hoàn tất việc góp vốn đợt 1 là 500.000usd tại VN, ông T và bà N sẽ góp tiếp đợt 2 là 500.000usd cho ông Th và bà Os L để thanh toán tiền mua thiết bị cho Công ty Milk INC, và công ty milk. Việc góp đợt 3 sẽ được chuyển vào Công ty Milk INC tại Mỹ. Việc xác nhận cổ phần của ông T và bà N sẽ được Công ty Milk hoặc Công ty Milk INC tại Mỹ phát hành bằng cổ phần sở hữu vốn đầu tư tương ứng với 1.500.000usd.

Tháng 05/2015 ông Th, bà V, ông T, bà Tr đã ký thoả thuận công ty chung để quản lý công việc kinh doanh cam kết vào quyền sở hữu bất động sản có giới hạn với tài sản năm ở California 92590 và không vì mục đích kinh doanh nào khác mà không có sự chấp thuận nhất trí bởi các bên. Tài sản sẽ được mua với giá là 7.550.000usd.

Tháng 06/2015, ông Th, bà Os L, bà N, ông Ch, bà Tr lập hợp đồng hợp tác góp vốn liên danh hợp tác kinh doanh tại TP.HCM, với các điều khoản:

  1. Mức góp vốn là 7.550.000usd, tương ứng 30% vốn các cá nhân và 70% vốn tín dụng, trong đó:
  • Ông Th 500.000 usd sở hữu 22.07%
  • Bà Os L 415.000usd sở hữu 18.32%
  • Bà Nh 750.000usd sở hữu 33.11%
  • Ông Ch 300.000usd sở hữu 13.25%
  • Bà Tr 300.000usd sở hữu 13.25%
  • Ông Thiệt, bà Os L thu từ vay tín dụng 5.285.000usd

Tính đến cuối tháng 04/2015 bà Nh, ông Ch, bà Tr đã góp đủ cho ông Th; thời gian góp chậm nhất ngày 06/05/2015.

Điều 2. Phương án kinh doanh:

  • Thực hiện mua lại Ware house có diện tích 108.927 m2 tại Hoa Kỳ với giá 7.550.000 usd, việc thanh toán sẽ bằng vốn góp các cổ đông là 2.265.000usd để thanh toán 30% trị giá ware house; và dùng vốn vay do ông Th và bà Os L đứng vay cá nhân tại Ngân hàng tại Hoa Kỳ để thanh toán 70% trị giá ware house mua bằng 5.285.000usd cho bên bán. Việc mua ware house phải hoàn thành cùng với việc chuyển nhượng quyền sở hữu qua tên người đại diện liên danh ngày 01/06/2015. Nếu việc mua ware house không hoàn thành ngày 01/06/2015 tất cả các khoản đóng góp vốn sẽ được hoàn trả lại ngay lập tức cho các cá nhân. [đã mua xong chưa? Họ khởi kiện về cái này đó]
  • Thực hiện ưu tiên ký hợp đồng cho thuê lại ware house theo hiện hữu đã mua cho Công ty Milk hoặc milk Company, cho thuê lại 03 năm với giá thuê ít nhất bằng 6% giá mua/năm; hết thời hạn 3 năm thuê thì bán lại cho 1 trong 2 công ty với giá trị 8.234.000 usd ban đầu, trong đó lời 684.000usd bằng 30% tổng số vốn góp của các cổ đông. Thu tiền khi bán ware house sẽ chuyển trả nợ khi ông Th và bà Os L vay ngân hàng, thu số tiền còn lại và hoàn trả cho các cổ đông số vốn góp ban đầu; thu lãi 684.000usd chia theo tỷ lệ % sở hữu vốn góp.

Điều 3. Trách nhiệm của mỗi nhà đầu tư trong liên danh

  • Tất cả các cá nhân trong liên danh phải có trách nhiệm cho số nợ 5.285.000usd mà ông Th và bà Os L vay.
  • Nếu 02 công ty không thuê thì các cá nhân sẽ góp tiền vào theo tỷ lệ vốn góp tại điều 1 dùng để chi trả lãi vay và các khoản chi phí liên quan của ware house.

Điều 4. Người đại diện liên danh

  • Tất cả các cá nhân góp vốn đầu tư trong liên danh nêu trên đồng ý chấp nhận bầu ông Thsẽ đại diện cho liên danh để quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến tài chính, thuế, tu bổ, bảo trì cũng như đại diện làm việc với cơ quan chính quyền. Bất kỳ đề xuất nào liên quan đến tàu chính của ware house bao gồm nhưng không giới hạn để có được tín dụng, vay nợ, hoặc thêm cá nhân đối tác phải được lập thành văn bản được tất cả các cá nhân liên danh chấp nhận.
  • Thoả thuận này thay thế cho những thoả thuận trước đây, khi các cá nhân ký vào thoả thuận này thì các thoả thuận trước đây vô hiệu.

Tuy nhiên, hợp đồng không có chữ ký của bà Tr.

Tháng 08/2015 tại Tp.HCM, Ông Th sở hữu 4.327.000 cổ phần – CEO, ông Ch sở hữu 500.000 cổ phần, ông T sở hữu 1.000.000 cổ phần, bà Nh sở hữu 500.000 cổ phần, bà Os L sở hữu 900.000 cổ phần, tiến hành họp cổ đông với các nội dung sau:

  • Việc sở hữu cổ phần của ông T bà Nh đã được đưa tên vào Công ty Milk INC và Milk.
  • Trong thời gian qua ông T và bà Nh đã góp vốn vào công ty Milk INC số tiền 670.000 usd, phần còn lại chưa góp là 830.000usd. trong đó 330.000usd phải góp vào cuối tháng 8/2015 và 500.000 usd sẽ góp vào tháng 10/2015. Nay ông T không vào Hoa Kỳ được nên ông T và bà Nh không tiếp tục thực hiện góp đủ số vốn còn lại 830.000usd như hợp đồng, và đề nghị số tiền 830.000 usd ông T, bà Nh không đóng trực tiếp như thoả thuận và chuyển qua đầu tư theo hình thức dự án EB5.

Tháng 03/2017 theo biên bản họp cổ đông thường niên số 01/0217/BB-ĐHĐCĐ, tại trụ sở công ty Milk INC, các cổ đông gồm: Ông Th [cổ phần biểu quyết 6.100.000, tỷ lệ vốn 52,14%], Ông Nh [cổ phần biểu quyết 1.170.000, tỷ lệ vốn 10%], Ông Ch [cổ phần 500.000, tỷ lệ vốn 4.27%], Bà T.Ng [cổ phần 500.000, tỷ lệ vốn 4.27%] uỷ quyền cho ông Ch, Os L [cổ phần 900.000, tỷ lệ vốn 7.69%] uỷ quyền cho ông Th, ông Hg & bà Kh [cổ phần 1.170.000, tỷ lệ vốn 10%] uỷ quyền cho ông Nh, T & bà Ng [cổ phần 660.000 [hay 670.000?], tỷ lệ vốn 5.64%] uỷ quyền cho Nh, Tr [cổ phần 500.000, tỷ lệ vốn 4.27%], Lyna [cổ phần 200.000, tỷ lệ vốn 1.71%] uỷ quyền cho ông Th, [uỷ quyền của ông T bà Nh cho ông Nh ngày 16/03/2017 tham dự cuộc họp ngày 22/03/2017 có thư mời qua email, có chữ ký 3 người – tức là ngày họp diễn ra trước ngày dự kiến] tiến hành họp với nội dung:

Tại mục 1.3.2: 1. Sau cuộc họp này, ông T, bà Nh, bà Trg được toàn quyền bán cổ phần mình nắm giữ trong công ty. Ông T, bà Nh, bà Trg chỉ có trách nhiệm thông báo cho Công ty trong trường hợp bán cổ phần; hoặc trường hợp các ông bà kể trên không bán được cổ phần, khi công ty có lợi nhuận sẽ ưu tiên mua lại cổ phần cho các ông bà kể trên trước; hoặc trong trường hợp công ty huy động vốn tiếp, vốn này phải được ưu tiên sử dụng vào mục đích sản xuất hoạt động trước, sau đó ưu tiên thứ hai là công ty mua lại cổ phần của các ông bà kể trên.

Theo giấy xác nhận của Ngân hàng:

  • Năm 2014 bà Nh đã chuyển tiền vào số tài khoản của ông Th số tiền 2.139.000.000đ
  • Năm 2015 số tiền 1.083.500.000đ
  • Năm 2015 số tiền 1.881.905.200đ

Theo Giấy xác nhận của Ngân hàng – chi nhánh TPHCM:

  • Năm 2015 bà Nh chuyển cho ông Th số tiền 8.556.000.000đ [nội dung chuyển: CT đầu tư đợt 1 (lần 2) theo HDĐT đã ký]

Theo Giấy xác nhận của Ngân hàng chi nhánh Chợ Lớn:

  • Năm 2015 bà N chuyển cho ông Th số tiền 2.834.000.000đ [nội dung chuyển: chuyển tiền theo thoả thuận góp vốn đầu tư ware house ]

Theo Giấy xác nhận của của ngân hàng chi nhánh Sài Gòn :

  • Năm 2015 bà Nh chuyển tiền cho ông Th số tiền 3.024.000.000đ [nội dung chuyển: chuyển tiền theo thoả thuận góp vốn đầu tư ware house ]
  • Theo sao kê tài khoản ngân hàng của bà Th.H từ năm 2015, có chuyển cho ông Th 2.000.000.000đ

Tháng 05/2018 bà Nh khởi kiện ông Th, yêu cầu trả số tiền 27.395.874.200đ bao gồm 21.518.405.200đ là số tiền mà ông Th đã nhận, và số tiền lãi phát sinh tạm tính theo lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước từ ngày tháng 04/2015 là 5.877.469.000đ. Số tiền đòi là hùn hạp mua bán nhà đất.

  • Tháng 11/2019 bà Nh có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu buộc ông Th phải trả thêm số tiền 9.786.000.000đ là số tiền ông Th đã nhận của bà Nh tại Mỹ.
  • Bản án sơ thẩm của Toà án về tranh chấp đòi tài sản đã chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện của bà Nh. Buộc ông Th phải trả 21.518.405.000đ tiền gốc mà bà Nh đã chuyển, và tiền lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán là 9%/năm tính từ tháng 09/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm là 8.363.437.692 đồng.
  • Ông Th phải chịu án phí sơ thẩm 310.018.429 đồng.

Đại diện của ông Th đã yêu cầu Luật sư Inter Justice tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng hợp tác đầu tư và tham gia bảo vệ quyền lợi tại toà án cấp phúc thẩm.

Không hoà giải được buộc phải nhờ cơ quan xét xử can thiệp

II. NHỮNG THIẾU SÓT CỦA BỊ ĐƠN – ÔNG TH TẠI CẤP SƠ THẨM

  • Không cung cấp các tài liệu chứng minh sự tồn tại và hoạt động của Công ty US milk
  • Không cung cấp các tài liệu Giấy chủ quyền ware house .
  • Tài liệu chứng minh việc thuê ware house như thế nào? Doanh thu từ việc thuê ware house sử dụng làm sao? Ông Th bà Os L có vay ngân hàng như thoả thuận không?
  • Các tài liệu chứng minh việc báo cáo các cổ đông về tình hình hoạt đông công ty sữa, ware house có lời lỗ gì, việc chi trả cổ phần cho các cổ đông,…

III. CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LIÊN QUAN

  • Luật đầu tư
  • Bộ Luật dân sự

IV. PHƯƠNG ÁN LUẬT SƯ BẢO VỆ

  • Yêu cầu sửa án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; Bởi lẽ:
  • [1] Căn cứ vào các hợp đồng, biên bản thì có căn cứ khẳng định các bên góp vốn đầu tư thành lập công ty và mua ware house để kinh doanh. Theo thoả thuận thì công ty sẽ mở tài khoản tại ngân hàng Wells Fargo và đã thực sự mở tài khoản tại đó
  • [2] Nội dung chuyển tiền của bà Nh, ông T cho ông Th là phù hợp với các nội dung của các hợp đồng, biên bản, thoả thuận giữa các bên.
  • [3] Ông Th là người trung gian nhận tiền bà Nh, ông T chuyển theo sự thoả thuận của các cổ đông để thành lập nên Công ty sữa và mua ware house. Ông Th không phải là người thụ hưởng thực sự thông qua các giao dịch vay mượn/ được tặng cho/ đầu tư hợp tác thực hiện dự án tại Việt Nam đối với số tiền bà Nh, ông T chuyển theo các hợp đồng và thoả thuận, để thực hiện các phương án kinh doanh. Hơn nữa Công ty đã thành lập, ware house đã mua nên chủ thể hoàn lại phải là chủ thể thụ hưởng thực sự [công ty US milk, Công ty milk inc, ware house].
  • [4] Trường hợp ông Th hoàn lại tiền đầu tư chỉ đặt ra khi:
  • + Ông Th bà Os L chuyển nhượng ware house [theo thoả thuận góp vốn đầu tư ware house ]
  • + Việc mua ware house phải được hoàn thành cùng với việc chuyển nhượng quyền sở hữu qua tên người đại diện liên danh. Nếu việc mua ware house không hoàn thành, tất cả khoản đóng góp vốn sẽ được hoàn trả lại ngay lập tức cho các cá nhân [điều II.2 Hợp đồng góp vốn liên danh, hợp tác kinh doanh].
  • + Như vậy, việc để ông Th đứng tên sở hữu ware house cũng là do các bên thoả thuận.
  • Các trường hợp này chưa đặt ra nên yêu cầu ông Thiệt hoàn tiền là chưa có cơ sở.
  • [5] Việc các bên thoả thuận hợp tác đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, mua ware house là chưa phù hợp với quy định của Luật đầu tư năm 2014 và Luật đầu tư năm 2020, chưa được cấp Giấy phép đầu tư của Bộ kế hoạch đầu tư. Quá trình đổi tiền, chuyển tiền ra nước ngoài cũng chưa phù hợp với quy định của Ngân hàng nhà nước. Nên các thoả thuận này vô hiệu.
  • Khi hợp đồng vô hiệu thì phải hoàn lại cho nhau những gì đã nhận. Nhưng thấy rằng, việc xảy ra hợp đồng vô hiệu là do lỗi của tất cả các bên khi tham gia thoả thuận không phù hợp với quy định pháp luật, người thụ hưởng tiền bà Nh và ông T chuyển thực tế không phải là ông Th mà là Công ty sữa và ware house, các bên đều biết điều này, và công ty sữa đã được thành lập hoạt động, ware house cũng được mua, ông Th đứng tên bất động sản cũng là do các bên thoả thuận. Do đó, đúng ra thì bà Nh phải khởi kiện công ty sữa, và/hoặc kiện chia tài sản đối với ware house, trong 1 hoặc các vụ kiện tại Mỹ hoặc Việt Nam.
  • [6] Toà án cấp sơ thẩm chưa làm rõ ông Th, bà Nh và ông T hùn hạp mua đất thế nào là chưa làm rõ nội dung vụ án. Trong khi nội dung chuyển tiền bà Nh ông T ghi là theo hợp đồng đầu tư, mua ware house. Vậy hợp đồng đó là hợp đồng nào? Thời hạn như thế nào? Nguyên đơn chưa có yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu, hay vì bị đơn vi phạm nghĩa vụ quy định trong hợp đồng nên phải trả lại tiền, mà buộc bị đơn phải trả tiền và trả lãi là chưa có cơ sở vững chắc, áp dụng sai quy định pháp luật. Trường hợp xấu nhất hợp đồng đầu tư, hợp tác kinh doanh để thực hiện dự án ở Mỹ vô hiệu thì không đặt ra vấn đề lãi suất. Các bên chỉ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

V. PHÁN QUYẾT CỦA TOÀ ÁN

  • Vụ án đang được xét xử, Inter Justice sẽ cập nhật phán quyết của Toà án.
Inter Justice - Tường pháp lý, Minh trí tuệ!
Tư vấn miễn phí
Luật sư Ngọc Bảo
Case Study khác

Đặt lịch tư vấn

Note: Vui lòng điền đầy đủ các thông tin có (*) để luật sư chúng tôi có thể tư vấn cụ thể nhất cho quý khách!
Trò chuyện với Luật Sư của chúng tôi

Inter Justice

Tường pháp lý – Minh trí tuệ
23 Lý Chính Thắng, Phường Võ Thị Sáu, Q3, TP Hồ Chí Minh
Tư vấn miễn phí